Bệnh xương khớp

Bệnh loãng xương là gì? Tác hại của bệnh loãng xương

benh loang xuong la gi

Bệnh loãng xương là một trong những bệnh thường gặp, đặc biệt là với nữ giới. Vậy bệnh loãng xương là gì? Tác hại của bệnh loãng xương với sức khỏe là gì? Bạn hãy cùng tìm hiểu về bệnh này nhé!

Định nghĩa bệnh loãng xương là gì?

Bệnh loãng xương là tình trạng bệnh lý của hệ thống xương được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng, gây tổn hại đến vi cấu trúc của tổ chức xương làm giảm độ chắc xương gây nguy cơ gãy xương.

Để chẩn đoán một người bị bệnh loãng xương hay không, bạn hãy dựa vào T-Score dựa trên phương pháp đo bằng máy DEXA tại cột sống và cổ xương đùi:

  • Đối với người bình thường, tỉ lệ T-Score trên -1,0
  • Đối với người bị giảm mật độ xương, tỷ lệ này ở mức -2,5 < T-Score ≤ -1,0
  • Người bị bệnh loãng xương, tỷ lệ T-Score ≤ -2,5

Tuy nhiên, khi thực hiện chẩn đoán loãng xương, bạn cần lưu ý không dựa hoàn toàn vào mật độ xương mà cần phải kết hợp với đánh giá nguy cơ loãng xương để có kết luận chính xác nhất.

Tác hại của bệnh loãng xương

Hiện nay, theo thống kê, trên thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương và con số này sẽ tăng lên từng ngày. Với người bệnh loãng xương, nguy cơ bị gãy xương sẽ cao hơn người bình thường. Thậm chí, có trường hợp, người bệnh bị gãy xương không rõ nguyên nhân.

Thêm vào đó, với phụ nữ từ 50 tuổi trở ên, 30% trong số này bị xẹp lún từ 1 đốt sống trở lên do loãng xương. Tại các nước châu Âu, cứ mỗi 30 giây ây lại có một người bị gãy xương do loãng xương. Ở Mỹ, mỗi năm có khoảng 25 triệu phụ nữ có nguy cơ loãng xương và 1,4 triệu người bị gãy xương đùi do loãng xương.

Bên cạnh đó, mỗi năm tính trung bình có 1/5 số người bị gãy xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương bị chết. 1/3 tổng số phụ nữ và 1/5 tổng số nam giới có ngy cơ mắc bệnh loãng xương.

Để chi trả cho chi phí khám chữa bệnh loãng xương, ở Mỹ con số này hàng năm là 14 tỷ USD, còn ở châu Âu con số này là 350 triệu EUR, và ở Anh là 1 tỷ GBP.

Số người mắc bệnh loãng xương ngày càng tăng thì con số chi phí và thiệt hại hàng năm do bệnh này gây ra càng lớn. Thiệt hại của bệnh này chỉ đứng trước bệnh hen và đứng sau bệnh tim mạch tại Mỹ.

Các thuốc điều trị bệnh loãng xương

Các thuốc điều trị loãng xương có tác dụng tăng khối lượng xương, cải thiện cấu trúc và độ chắc của xương, giảm nguy cơ gãy xương. Sử dụng cho bệnh nhân có tiền sử bị gãy xương do loãng xương. Ngoài ra, bệnh nhân được chẩn đoán bị loãng xương bằng phương pháp đo mật độ xương kết hợp có yếu tố nguy cơ.

1.Nhóm bisphosphonat

Các thuốc thuộc nhóm bisphosphonat được sử dụng rộng rãi trên thế giới như:

Các thuốc sử dụng qua đường uống: Alendeonat, Risedronat, Ibandronat.

Các thuốc sử dụng qua đường tính mạch: Pamidronat, Acid zoleddronic, Zometa.

2.Calcitonin:

Calccitonin có dạng xịt và dạng tiêm. Calcitonin do các tế bào nang tuyến giáp sản xuất, là một polypeptid gồm 32 axit amin.

Thuốc này có tác dụng ức chế hoạt động của hủy cốt bào, kích thích hoạt động của tạo cốt bào. Bên cạnh đó, miacalcic có tác dụng giảm đau mạnh, giảm tổng hợp chất trung gan gây đau như prostaglandin…

Thuốc này có tác dụng phụ: gây dị ứng (rất hiếm gặp), bừng mặt, buồn nôn và nôn. Các triệu chứng này hầu như sẽ hết sau 1 – 2 ngày điều trị. Thuốc dạng xịt đôi khi gây viêm mũi cho bệnh nhân.

3.Các tác nhân điều hòa thụ thể estrogen chọn lọc

Raloxifen (Evista) là một chất tổng hợp có tác dụng giống estrogen nhưng chỉ tác động trự tiếp lên thụ thể estrogen tại mô xương mà không tac động lên thụ thể này tạo mô vú, nội mạc tử cung. Vì vậy thuốc này không gây tác dụng phụ như estrogen tự nhiên. Tuy nhiên, thuốc này không cải thiện được trình trạng sau mãn kinh ở một số bệnh nhân có biển hiện rối loạn sau mãn kinh.

Một số tác dụng phụ cần lưu ý của thuốc: chuột rút, bốc hỏa, nguy cơ huyết khối sâu…

4.Hormon thay thế

Các hormon thay thế có tác dụng phòng mất xương, giảm nguy cơ gãy xương. Các thuốc này có thể xem xét sử dụng trong những trường hợp mãn kinh sớm trước 45 tuổi hoặc có những biểu hiện rối loạn sau mãn kinh.

2 loại thuốc thuộc nhóm này bao gồm: estrogen và tibolon. Các thuốc này có tác dụng phụ nên chỉ định dùng thuốc cần được tư vấn bởi bác sĩ.

5.Những thuốc khác:

Các thuốc sử dụng khác bao gồm: vitamin K (đặc biệt là vitamin K2), Parathyroid hormon, Strontiumranelate, RANKL, Hormon tăng trưởng (GH), Isoflavon.

6.Những thuốc điều trị phối hợp

Canxi cùng với vitamin D và dẫn xuất vitamin D là những thuốc điều trị phối hợp cho người bệnh loãng xương. Canxi điều trị phối hợp cho phụ nữ có thai và trên 60 tuổi. Vitamin D và dẫn xuất vitamin D cần thiết cho sự hấp thu canxi, tăng trưởng lực cơ, phòng nguy cơ ngã.

7.Điều trị ngoại khoa khi gãy xương

– Điều trị ngoại khoa đối với gãy cổ xương đùi và các xương ngoại vi

– Điều trị ngoại khoa những trường hợp xẹp lún đốt sống do loãng xương.