Xơ cứng bì toàn thể – Bệnh cơ xương khớp hệ thống nguy hiểm

Bệnh xơ cứng bì toàn thể không chỉ ảnh hưởng đến cơ xương khớp mà còn tác động trực tiếp đến da. Bệnh cơ xương khớp này tác động lớn đến cơ thể nhưng không phải ai cũng biết cách chữa trị hiệu quả. Bài viết sau đây, iMedicare sẽ giới thiệu đến bạn các thông tin hữu ích để điều trị hiệu quả bệnh này.

A. Bệnh xơ cứng bì toàn thể là gì?

Xơ cứng bì toàn thể là một bệnh hệ thống thường gặp, đứng thứ 2 sau bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh xơ cứng bì toàn thể là một bệnh tự tổn thương chất cơ bản của thành phần tạo keo ở da là chủ yếu.

Yếu tố bệnh sinh chính là các yếu tố nội tiết, di truyền, môi trường.

  • Người ta đã phát hiện những gia đình có nhiều thành viên bị xơ cứng bì toàn thể hoặc các bệnh tự miễn khác.
  • Bệnh xuất hiện nhiều hơn ở những người thợ mỏ vàng và mỏ than so với người không làm nghề mỏ đã gợi ý rằng bụi silic là một trong những yếu tố khởi phát.

Trong xơ cứng bì toàn thể, sự dày và mất đàn hồi của da là do sự tăng sinh và tích đọng quá mức collagen ở da và tổ chức dưới da.

xo-cung-bi-toan-the

B. Triệu chứng lâm sàng bệnh xơ cứng bì toàn thể

Đó là bệnh toàn thể của mô liên kết, có rối loạn đa hệ thống, Bệnh đặc trưng bởi những tổn thương ở da, mạch máu và nội tạng, chủ yếu là thực quản, phổi, tim và thận.

Bệnh thường gặp ở nữ chiếm 80%, lứa tuổi thường gặp là 40 – 50%. Cho tới nay, chưa có phương pháp điều trị thật sự hiệu quả nên việc chẩn đoán sớm là vô cùng quan trọng.

Bệnh ít tổn thương nội tạng hơn các bệnh khác trong nhóm. Diễn biến mãn tính, kéo dài, trên cơ sở các đợt cấp tính. Tiên lượng khó dự đoán, có thể tử vong đột ngọt do tổn thương cơ tim.

1. Hội chứng Raynaud

Hội chứng Raynaud rất thường gặp, thường có mặt ở 85% – 100% trường hợp. Xuất hiện sớm và nặng.

Có tới trên 90% bệnh nhân mắc xơ cứng bì toàn thể được báo trước bằng hội chứng Raynaud (thường là không điển hình), có khi từ trên 10 năm trươc.

Hội chứng này thường bắt đầu cấp, chia làm nhiều đợt với những loạn dưỡng ở đầu ngón, nhiều khi ở cả tai, mũi, có thể để lại sẹo.

Về mặt lâm sàng, bệnh nhân thấy tê, mất cảm giác ở các đầu chi, chuột rút, rối loạn vận mạch. Ngoài ra, bệnh có các giai đoạn điển hình: co mạch (bàn tay trắng bệch); giãn mạch gây ứ huyết: tím, đau nhức; trở lại bình thường. Triệu chứng nặng: tắc mạch, hoại tử, loét đầu chi.

2. Tổn thương da

Tổn thương này chiếm 100% các trường hợp xơ cứng bì toàn thể. Thuật ngữ xơ cứng bì toàn thể được dùng để chỉ tình trạng bệnh lý ở da, khu trú hay lan tỏa. Trong đó, da cứng lại, giảm hoặc mất tính co dãn.

Tổn thương da và mô dưới da trong xơ cứng bì toàn thể là triệu chứng quan trọng nhất để chẩn đoán bệnh khi khám lâm sàng, thường qia 3 giai đoạn: phù nề (35% các trường hợp), tiếp đó là cứng hoặc xơ, và cuối cùng là teo. Tổn thương da thường thấy ở mặt, tay, chân.

Triệu chứng ở mặt rất điển hình: bộ mặt vô cảm, với các chi khẳng khiu như xác ướp. Đó thường là thể tiến triển nhanh, mau dẫn đến tử vong. Ngoài ra, còn có rối loạn sắc tố và bạch biến, có hình ảnh “khảm xà cừ” trên da.

Xơ cứng ngón tay, móng nứt và giòn dẫn đến bàn tay co quắp. Loét da đầu ngón và mu bàn tay do thiếu dinh dưỡng. Vôi hóa tổ chức da, gân và đầu ngón. Xơ hóa lan lên cẳng tay, cánh tay, mặt và toàn thân. Phù cứng ở mặt, cổ, gốc chi không đều (lồi lõm).

trieu-chung-xo-cung-bi-toan-the

3. Bộ máy vận động

Tổn thương bộ máy vận động chiếm 75% các trường hợp. Đau mỏi, cơ, teo cơ, giảm cơ lực gốc chi, viêm cơ. Xương khớp đau, viêm, dính cứng khớp; tiêu xương ở các khớp ngón tay, đầu xương trụ.

4. Tiêu hóa

Thực quản thường tổn thương sớm, khó nuốt, ứ nước bọt (chiếm 35% các trường hợp). Niêm mạc 1/3 trên thực quản bị xơ cứng, giảm co bóp, hẹp, loét.

Dạ dày, ruột bị: đau bụng, chướng bụng, tiêu chảy, kém hấp thu, sa dạ dày, hẹp môn vị, ruột kém nhu động.

Gan, lách, hạch ít bị tổn thương.

5. Phổi

Tổn thương ở phổi chiếm 25% các trường hợp xơ cứng bì toàn thể. Xơ phổi kẽ lan tỏa, hậu quả là rối loạn thông khí phổi xuất hiện sớm và thường gặp. Tăng áp lực động mạch phổi nguyên phát hoặc thứ phát sau xơ phổi. Tâm phế mạn.

6. Tim

Bệnh xơ cứng bì toàn thể gây tổn thương tim 15% các trường hợp. Bệnh xơ cơ tim (suy tim, rối loạn nhịp) có thể gây đột tử. Suy thất phải do biến chứng tâm phế mạn tính. Viêm màng ngoài tim (mạn tính, không biến chứng).

7. Thận

Suy thận cấp đột ngột kèm tăng huyết áp ác tính do xơ các động mạch thận. Trường hợp nhẹ, bệnh nhân bị protein niệu chiếm 10% trường hợp.

8. Mắt

Tổn thương đáy mắt (xơ động mạch).

C. Xét nghiệm

Hội chứng viêm sinh học biểu hiện bằng tốc độ lắng máu cao, tăng nồng độ fibrinogen…

Các rối loạn về máu như: thiếu máu huyết tán, giảm tiểu cầu, bạch cầu…

Sinh thiết da: thường làm ở vùng mặt trước cẳng tay, dành cho những trường hợp lâm sàng nghi ngờ.

Hình ảnh vi thể dưới kính hiển vi quang học thường được mô tả là thượng bì có thể bình thường hoặc teo đi, nhưng trung bì bao giờ cũng dày lên nhiều do sự tăng sinh của các sợi collagen. Điều này khiến mao mạch bị chít hẹp, đồng thời làm cho khoảng cách từ thượng bì tới hạ bì rộng ra.

Ở lớp trung bì có sự xâm nhiễm rải rác các tế bào viêm. Các thành phần lông, tuyến bã, tuyến mồ hôi thưa thớt.

D. Chẩn đoán xơ cứng bì toàn thể

1. Chẩn đoán xác định

Hiện nay, tiêu chuẩn chẩn đoán xơ cứng bì toàn thể của Hội thấp khớp học Mỹ (ACR) 1980 được dùng phổ biến trên thế giới. Tiêu chuẩn bao gồm:

  • Tiêu chuẩn chính: xơ da vùng gần.
  • Tiêu chuẩn phụ:

+ Xơ da đầu chi.

+ Sẹo ở ngón tay hoặc vết loét ở đầu ngón tay.

+ Xơ phổi ở vùng đáy.

Chẩn đoán dương tính khi có tiêu chuẩn chính hoặc 2 tiêu chuẩn phụ trở lên.

2. Thể lâm sàng

Thể lâm sàng bệnh xơ cứng bì toàn thể bao gồm thể lan tỏa, thể khu trú và thể kết hợp:

  • Thể lan tỏa toàn thân.
  • Thể khu trú: Hội chứng CREST:

+ Calcinose: calci hóa tổ chức dưới da đầu chi.

+ Raynaud: hội chứng Raynaud.

+ Oesophagienn (atteinte): tổn thương thực quản.

+ Sclerodactilie: xơ cứng bì ở đầu ngón tay.

+ Telangiecsies: các chấm ban đỏ ở mặt.

  • Thể kết hợp:

+ Hội chứng Gougerot – Sjogren (hội chứng khô)

+ Viêm khớp và teo xơ tuyến lệ và tuyến nước bọt.

E. Điều trị xơ cứng bì toàn thể

1. Các thuốc điều trị xơ cứng bì toàn thể

Trong rất nhiều các loại thuốc được đề nghị, chỉ có D-penicillamin, thuốc chẹn calci và ức chế men chuyển là tỏ ra hiệu quả nhất. Các thuốc được sử dụng điều trị gồm:

  • D-penicillamin uống liều tăng dần kéo dài nhiều tháng.
  • Corticosteroid: uống liều trung bình, sau duy trì liều thấp khi có triệu chứng ở khớp, cơ, phổi.

Để điều trị hội chứng Raynaud: dùng thuốc chẹn calci, reserpin… Điều trị triệu chứng khi có tổn thương ở các nội tạng: thận, tim, phổi, tiêu hóa, nhiễm khuẩn… Đồng thời, người bệnh cần giữ vệ sinh, chăm sóc da, đầu ngón, điều trị suối khoáng.

dieu-tri-xo-cung-bi-toan-the

Để điều trị toàn thân, bệnh nhân sử dụng các thuốc sau:

a. D-penicillamin (biệt dược là Trolovo)

Đây là thuốc duy nhất được khuyên dùng hiện nay. Thuốc có thể làm giảm độ dày của da, phòng ngừa các tổn thương nội tạng. Thuốc cũng có tác dụng ức chế miễn dịch.

Liều dùng bắt đầu bằng liều uống 250 mg/ngày trong 2 – 3 tháng với viên 125mg, 250mg. Bác sĩ có thể tăng đến liều tối đa đạt đến 750 – 1250 mg/ngày trong 12 – 24 tháng. Nếu đạt hiệu quả, không có các biểu hiện da, sẽ giảm chậm liều cho đến khi đạt liều duy trì 250 mg/ngày.

Tác dụng phụ xảy ra trong khoảng 30 – 40% các trường hợp xơ cứng bì toàn thể. Bệnh nhân có thể: sốt, chán ăn, nôn, phát ban hạ bạch cầu, tiểu cầu, thiếu máu do suy tủy, hội chứng thận hư, nhược cơ nặng. Do đó, ¼ bệnh nhân phải ngừng thuốc.

Các tác dụng khác, đặc biệt như khó chịu về dạ dày, ruột, sốt, phát ban sẽ ít gặp hơn nếu dùng thuốc theo kiểu “đi nhẹ, đi chậm”. Phải theo dõi lượng bạch cầu, tiểu cầu trong máu và protein niệu.

b. Corticoid:

Được dùng với mực đích giảm miễn dịch. Tuy nhiên kết quả không rõ ràng. Thuốc có hiệu quả với phản ứng viêm ở khớp, cơ và phổi, viêm màng ngoài tim cấp. Song thuốc không có hiệu quả với các tổn thương nội tạng và tiên lượng chung của bệnh xơ cứng bì toàn thể . Khi xuất hiện tổn thương phổi có yếu tố viêm rõ rệt được phát hiện qua nội soi phế quản và phân tích dịch rửa phế quản phế nang, bác sĩ có thể dùng corticoid liều cao (60 – 80 mg prednisolon/ngày chia nhiều lần) trong thời gian ngắn.

Thuốc cũng góp phần cải thiện tình trạng tăng áp lực động mạch phổi nếu dùng sớm và kết hợp với thuốc chẹn kênh calci. Với liều 30 – 40 mg prednisolon/ngày chia nhiều lần, thuốc có tác dụng làm giảm rõ rệt các biểu hiện viêm, phù nhưng không có tác dụng trên quá trình xơ hóa.

Nhìn chung nên tránh dùng corticoid đối với dạng xơ hóa da vì có khả năng gây tổn thương thận mà hiệu quả của thuốc cũng không rõ rệt.

c. Inteferon gamma liên hợp

Đây là chất ức chế sản xuất collagen bởi các nguyên bào xơ của da bình thường và da xơ cứng. Có hiệu quả đối với các triệu chứng da, khớp, thực quả (nuốt khó) và thận.

d. Colchicin:

Sử dụng liệu 1 – 2 mg/ngày có tác dụng ức chế tích lũy collagen do ức chế chuyển tiền collagen in vitro. Nói chung, hiệu quả không rõ ràng, chỉ có hiệu quả với triệu chứng da khi dùng trong thời gian dài. Thuốc được dung nạp tốt hơn so với D-penicillamin.

e. Các thuốc ức chế miễn dịch:

Cyclophosphamid có thể cải thiện triệu chứng viêm phổi lẽ nặng mặc dù gây nhiều tác dụng phụ.

f. Thuốc chống ngưng tập tiểu cầu:

Các sản phẩm sinh học của tiểu cầu tác dụng lên thành mạch. Aspirin liều thấp ức chế thromboxan A2 (chất gây co mạch và ngưng tập tiểu cầu mạnh). Có thể dùng dipyridamol liều 200 – 400 mg/24 giờ, cho nhiều lần trong ngày).

g. Thuốc khác:

Người ta cũng dùng thử một số các thuốc khác như vitamin E, dầu thực vật (Piascledine), EDTA hoặc salazopirin, iod, tinh chất giáp trạng, song hiệu quả chưa rõ ràng.

Ngoài ra, bệnh nhân còn sử dụng các phương pháp vật lý trị liệu để làm mềm da, phục hồi chức năng vận động, đặc biệt là điều trị suối khoáng, nước nóng.

2. Điều trị triệu chứng

a. Điều trị hội chứng Raynaud

Các biện pháp chung: khuyên bệnh nhân mặc ấm, đi găng tay, tất chân trong mùa lạnh, tránh stress, không dùng các thuốc như amphetamin, ergotamin, chẹn beta giao cảm.

Bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể vẫn có thể dùng thuốc tránh thai chứa estrogen và progesteron. Bệnh nhân cần được hỗ trợ tâm lý (thư giãn, tự luyện tập, dạy bệnh nhân tự làm tăng nhiệt độ da bằng cơ chế điều hòa ngược). Với các đợt kích phát thưa, mức độ nhẹ thì chỉ cần các biện pháp trên đây là đủ. Còn khi các triệu chứng trở nên thường xuyên, nặng, đặc biệt khi có rối loạn dinh dưỡng tổ chức hay loét thì phải dùng thêm thuốc với mục tiêu giãn cơ trơn mạch máu, làm tăng cường tuần hoàn.

Tùy theo từng bệnh nhân, bác sĩ có thể chỉ định dùng 1 trong những loại thuốc sau đây:

  • Thuốc ức chế alphagiao cảm: prazosin, reserpin, alpha-methyldpopa, guanetidin, phentolamin, phenoxybenxamin, nicergolin, tolazolin.
  • Thuốc chẹn calci: diltiazem, nifedipin, verapamin.
  • Thuốc đối kháng với serotonin: ketanserin.
  • Prostaglandin: PG E1, PG E2, PGI2 (prostacyclin).
  • Các thuốc kacs như trinitrin bôi da, stanozolol, dazoxiben, thyrocalcitonin, liothyronin, indapamid, griseofulvin, ioxsuprin.
  • Thuốc chẹn giao cảm alpha như prazosin có tác dụng tốt nhưng khó dung nạp. Do vậy thuốc cần dùng liều thấp rồi tăng dần liều lượng để tránh tác dụng phụ (mạch nhanh, hạ huyết áp tư thế đứng).
  • Reserpin đường uống với liều 0,1 – 0,5 mg/ngày. Trong trường hợp loét da ngón tay, thuốc có thể dùng đường tiêm chậm nội động mạch vào động mạch cánh tay hay động mạch quay với liều 0.5 – 1 mg hòa tan trong dung dịch muối đẳng trương trong nhiều phút.
  • Việc sử dụng thuốc chẹn calci là một bước đột phá mới trong điều trị hội chứng Raynaud. Trong thời tiết lạnh có thể dùng nifedipin (Adalat) 10 hoặc 20 mg, 3 – 4 lần/ ngày (trung bình 30 – 60 mg/ ngày). Nếu nifedipin không dung nạp được thì chuyển sang dùng diltiazeem (Tildiem) 3 – 4 viên/ ngày.
  • Trường hợp hội chứng Raynaud nặng có hoại tử ngón tay có thể truyền dung dịch dextran trọng lượng phân tử thấp Rheomarcrodex). Mõ nitroglycerin (Trinitrin, kem lenitral 2%) hay mỡ prostagladin E2 (PG E2) được bôi ngoài da trên các ngón tay tỏ ra có hiệu quả tại chỗ.

Một phương pháp mới gây giãn mạch ngón tay là gây cường giáp bằng sodium liothyronin (triiodothyronin) 75µg hàng ngày. Kết hợp triiodthyronin và reserpin tỏ ra có hiệu quả nhất.

Phác đồ tham khảo điều trị hội chứng Raynaud:

Tần xuất và mức độ trầm trọng của đợt co mạch Gợi ý điều trị
1.      Đợt hiếm hay mức độ trung bình Các biện pháp bảo vệ, ngừng hút thuốc, không cần dùng thuốc
2.      Đợt thường xuyên nhưng không có loạn dưỡng Các biện pháp bảo vệ và chẹn calci.
3.      Đợt thường xuyên có loạn dưỡng nhưng chưa có loét mở Biện pháp bảo vệ, chẹn calci hoặc reserpin đường uống, liothyronin.
4.      Đợt thường xuyên có loét đau PGE, truyền tĩnh mạch, reserpin truyền nội động mạch sau đó dùng chẹn calci; hoặc reserpin kết hợp liothyronin.

b. Tổn thương da

Khô da có thể giảm nếu tránh tiếp xúc với xà phòng và bôi thuốc mỡ. Bệnh nhân cần tập thể dục thường xuyên để duy trì độ mềm dẻo của chi, ngón và độ nhạy cảm của da. Xoa bóp da vài lần trong ngày cũng có tác dụng tốt. Tránh làm da bị chấn thương vì dễ gây loét. Các vết loét da phải phải được chăm sóc cẩn thận bằng thuốc rửa sát trùng hay cắt lọc ngoại khoa. Các vết loét bị nhiễm khuẩn phải được điều trị bằng thuốc kháng sinh, cũng có thể kết hợp với thuốc diệt khuẩn tại chỗ.

  • Calci hóa dưới da: dùng colchicin 1mg/ngày có tác dụng giảm viêm tại chỗ, giảm đau và loét da.
  • Viêm xơ da cơ: điều trị như viêm da cơ. Sử dụng corticoid liều cao, các thuốc ức chế miễn dịch như azathioprin, cyclophosphamind, methotrexat.

c. Triệu chứng tiêu hóa

  • Chống trào ngược thực quản: ăn nhiều bữa nhỏ, thuốc chống acid uống vào giữa các bữa ăn, kê đầu cao khi nằm. Tránh ăn muộn ban đêm. Không nằm trong vài giờ sau khi ăn, tránh café, chè, socola vì các chất này gây giảm cơ lực cơ tròn ở vùng thấp của thực quản. Thuốc sử dụng:

+ Chống acid: cimetidin, ranitidin, famotidin, omeprasol (20 – 40 mg/ngày) có hiệu quả rất tốt.

+ Kháng sinh phổ rộng như nhóm cyclin có tác dụng chống lại sự tăng sinh vi khuẩn: tetracylin 0.5g x 4 lần/ ngày.

  • Nuốt khó: bệnh nhân phải nhai kỹ thức ăn và đẩy thức ăn xuống bằng cách nuốt với nước. Có thể dùng thuốc chống acid (ranitidin, omeprasol), ketanserin.
  • Hội chứng kém hấp thu: thường do giảm vận động tá tràng và dovi khuẩn. Có thể dùng kháng sinh nhóm cyclin theo đợt. Nếu không có tác dụng thì có thể chuyển sang các kháng sinh khác như erythromycin, metronidazol. Octreotid, đồng đẳng của somatostatin cũng có tác dụng trong một số trường hợp tăng sinh vi khuẩn và giả tắc. Bác sĩ cần khuyên bệnh nhân ăn thức ăn mềm và uống các thuốc nhuận tràng đối với táo bón do tổn thương ruột.

d. Triệu chứng cơ xương khớp

  • Viêm cơ cấp: thường đáp ứng với glucocorticoid; thuốc không chỉ định trong các trường hợp xơ cứng bì toàn thể không có tổn thương cơ.
  • Đau khớp: aspirin và các thuốc chống viêm không steroid, vật lý trị liệu, tiêm tại khớp, ghép khớp giả đối với các khớp bị hủy hoại nhiều như khớp gối, háng. Dùng prednisolon 5 mg/ngày uống cách ngày nhằm góp phần cải thiện toàn trạng và đau khớp.

e. Xơ phổi

Xơ phổi trong xơ cứng bì toàn thể là không hồi phục. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và điều trị biến chứng. Nhiễm trùng phổi điều trị bằng kháng sinh. Thiếu oxy thì cần phải cho thở oxy nồng độ thấp. Vai trò của glucocorticoid trong phòng ngừa tiến triển của tổn thương tổ chức kẽ phổi không rõ ràng.

f. Tổn thương thận do mạch máu

Phát hiện sớm các tổn thương thận đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn chức năng thận. Cơn tiến triển nhanh chóng, có thể gây tử vong, thường có kèm theo tăng huyết áp. Do đa số bệnh nhân có tăng renin nên các thuốc ức chế men cuyển có tác dụng bình ổn và bảo tồn chức năng thận như một thuốc hạ áp tốt.

Các thuốc thường dùng là captopril (37,5 – 75 mg/ ngày), enalaprin, lissinoprin, peridopril. Chúng có tác dụng tốt trong tăng huyết áp, đợt tổn thương thận cấp, tăng áp lực động mạch phổi, suy tim. Thận nhân tạo có thể chỉ định trong trường hợp thương thận tiến triển.

g. Tổn thương tim

Đòi hỏi phải theo dõi cẩn thận việc dùng digitalis và thuốc lợi tiểu. Tràn dịch màng ngoài tim có thể đáp ứng với thuốc lợi tiểu. Tránh lợi tiểu quá mức vì có thể làm giảm hiệu quả của thể tích huyết tương, giảm thể tích tống máu của tim và làm tổn thương thận. Các thuốc ức chế calci cải thiện cung lượng tim.

F. Theo dõi và tiên lượng bệnh xơ cứng bì toàn thể

Mức độ tổn thương và mức độ nặng của bệnh rất khác nhau tùy từng cá thể. Ở một số bệnh nhân, trong nhiều năm chỉ có những thay đổi hạn chế ở da các đầu chi trước khi xuất hiện những tổn thương rõ rệt ở nội tạng. Trong khi đó, ở nhiều bệnh nhân khác, tổn thương da lan rộng và bệnh lý nội tạng phát triển chỉ trong một vài năm. Những trường hợp chỉ tổn thương nội tạng mà không có biểu hiện ở da hiếm gặp. Nhiều trường hợp bệnh tạm ngừng, thậm chí tổn thương da có thể trở về gần như bình thường sau nhiều năm. Tiên lượng vẫn tỏ ra xấu hơn đối với chủng tộc da đen, nam giới, bệnh nhân có tuổi.

Tuổi thọ phụ thuộc vào tình trạng nặng nhẹ của các tổn thương nội tạng, đặc biệt là tổn thương của tim, phổi và thận. Trong hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra do suy thận, suy tim hay suy hô hấp. Các ung thư vú, phổi có thể xảy ra thứ phát ở bệnh nhân xơ cứng bì toàn thể. Thể khu trú (dải, mảng, vòng, nốt) tiên lượng tốt.

Với bài viết trên đây iMedicare hy vọng bạn sẽ nâng cao được kiến thức và tìm hiểu rõ ràng hơn về benh xo cung bi toan the. Các thông tin về nguyên nhân, cách chẩn đoán, triệu chứng cùng hướng điều trị trên đây sẽ giúp bạn chăm sóc người bệnh xơ cứng bì toàn thể tốt hơn. Chúc bạn và gia đình mạnh khỏe!

GIỎ HÀNG

ĐÓNG
Scroll To Top