Bệnh da liễu

Hội chứng bong vảy da do tụ cầu

hoi-chung-bong-vay-da1

Hội chứng bong vảy da do tụ cầu hay bệnh Ritter được bác sĩ người Đức Gotfried Ritter von Rittershain mô tả lần đầu vào năm 1878. Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ do độc tố của tụ cầu vàng gây ra và có thể gây thành dịch ở trẻ sơ sinh trong bệnh viện.

Triệu chứng lâm sàng

Hội chứng bong vẩy da do tụ cầu hay Stahylococcal scalded skin syndrome là bệnh nhiễm trùng da cấp tính gây nên do ngoại độc tố của tụ cầu.

Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là đỏ da, phỏng nước, bong vẩy da lan tỏa. Bệnh thường gặp hơn ở các nước đang phát triển, chủ yếu ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Ở Việt Nam, chưa có số liệu thống kê về tỷ lệ bệnh. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bệnh gặp tương đối phổ biến nguyên nhân gây bệnh.

Nguyên nhân gây nên hội chứng bong vảy da do tụ cầu

hoi-chung-bong-vay-da

Tụ cầu vàng (Staphylococus aureus) tiết ra độc tố gây bong da lưu hành trong máu người bệnh. Có 2 loại độc tố khác nhau là exfeliative toxin A và B (ETA,ETB). Các độc tố làm phân cắt desmoglein 1 (thường nằm ở lớp hạt của thượng bì) gây ra các bọng nước khu trú nông, dễ vỡ và bong vảy rất nhanh.

Chẩn đoán

1.Chuẩn đoán xác định

a.Lâm sàng

– Thường xuất hiện có trẻ sơ sinh, trẻ em. Có thể xuất hiện trên người lớn nhất là người bệnh bị suy thận hoặc suy giảm miễn dịch.

– Nhiễm khuẩn tụ cầu vàng ban đầu có thể là thương tổn chốc hoặc nhọt.

– Khởi phát người bệnh sốt cao, mệt mỏi, khó chịu, kích thích, đau họng và đau rát da. Sau đó xuất hiện ban màu hồng nhạt, thường ở quanh miệng.

– Sau 1-2 ngày xuất hiện các bọng nước nông, nhanh chóng, vỡ tạo thành lớp vảy da mỏng, nhăn nheo như giấy cuốn thuốc lá. Có thể có đỏ da toàn thân.

Dấu hiệu Nikolsky dương tính.

+ Thương tổn khỏi không để lại sẹo.

+ Có thể xuất hiện viêm kết mạc.

b.Cận lâm sàng

– Bọng nước nguyên vẹn thường vô trùng

– Nuôi cấy vi khuẩn từ nước tiểu, máu, vòm họng, rốn, vùng da nghi ngờ nhiễm khuẩn.

– Sinh thiết da chỉ làm để chẩn đoán phân biệt, nhất là với hội chứng Lyell. Trên tiêu bản có thể thấy bọng nước nằm ở phần dưới của lớp hạt, bong vảy và rất ít hoại tử.

2.Chuẩn đoán phân biệt

-Hội chứng Lyell: nguyên nhân do thuốc, hoại tử phần thượng bì, thương tổn niêm mạc thường gặp, tiên lượng rất nặng.

-Bỏng nắng.

-Chốc bọng nước lớn

-Ban đỏ do virus: hội chứng viêm long, dát đỏ dạng tinh hồng nhiệt hoặc dạng sởi.

-Pemphigus thể đỏ da: bệnh bọng nước tự miễn, hiếm gặp ở trẻ em.

Điều trị:

1.Nguyên tắc chung

– Kháng sinh toàn thân

– Bồi phụ nước – điện giải/nâng cao thể trạng

2.Điều trị cụ thể

– Tùy tình hình dịch tễ để lựa chọn kháng sinh, tốt nhất là amoxicillin phối hợp với acid clavulanic: trẻ em < 12 tuổi: 30 mg/kg/ngày chia 2 lần, trẻ em > 12 tuổi: 40mg/kg/ngày. Thời gian điều trị 7 ngày.

– Tụ cầu vàng nhạy cảm methicillin: oxacillin 150mg/kg/ngày chia đều  giờ/lần trong 5-7 ngày.

– Tụ cầu vàng kháng methicillin: vancomycin 40-60 mg/kg/ngày chia đều 6 giờ/lần trong 7-14 ngày.

– Điều trị hỗ trợ: kem, mỡ dưỡng ẩm để nâng cao khả năng hồi phục của da.

Tiến triển và biến chứng

– Đáp ứng tốt với điều trị và thường khỏi hoàn toàn sau 5-7 ngày.

– Tránh hợp nặng có thể gây tử vong, nhất là ở trẻ suy dinh dưỡng, người suy thận hay suy giảm miễn dịch.

– Biến chứng: nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi,…

Phòng bệnh

Để hạn chế tối đa khả năng mắc bệnh viêm da tụ cầu, phụ huynh nên lưu ý trong cách chăm sóc và dinh dưỡng cho trẻ hàng ngày như sau:

  • Thường xuyên vệ sinh cá nhân bằng cách tắm
  • Rửa với nước sạch hàng ngày
  • Vệ sinh miệng cho trẻ bằng nước muối sinh lý trước và sau khi ăn như trước và sau khi ngủ dậy.
  • Không để trẻ tiếp xúc với môi trường bụi bẩn, ô nhiễm.
  • Nâng cao sức đề kháng cho trẻ thông qua sữa mẹ đủ dinh dưỡng, nhiều vitamin C, B1,…
  • Vi khuẩn tụ cầu không chỉ gây viêm da mà còn gây một số bệnh khác như áp-xe phổi, viêm tủy xương, viêm tĩnh mạch xoang hang, viêm nội tâm mạc, viêm màng não mủ,…

Vì thế, phụ huynh nên lưu tâm đến những dấu hiệu bất thường của trẻ như đã kể trên, thực hiện điều trị và chăm sóc trẻ đúng theo hướng dẫn của bác sĩ.